Địa lý Lạc Việt

Câu chuyện phong thủy

La Bàn là phát minh của người Việt Cổ (Cơ sở minh chứng)

La Bàn là phát minh của ai? La Bàn là phát minh của nước nào? 

Và vì sao có thể khẳng định La Bàn là phát minh của người Việt, hãy dành 5 phút đọc bài viết này.

Nối tiếp bài viết về Cụ Thiềm Thừ, một biểu tượng để xác định la bàn là phát minh của tổ tiên chúng ta. Bài viết này sẽ chỉ ra rằng: Từ hàng ngàn năm nay, cả thế giới này vẫn ngộ nhận la bàn là phát minh của nền văn minh Hoa Hạ, cũng như cho rằng Kinh Dịch và thuyết Âm Dương Ngũ hành của người Trung Hoa vậy.

Thế giới nói gì về nguồn gốc La Bàn?

Bạn có thể tìm kiếm trên Goolge, hầu hết kết quả trả về đều thống nhất nói về điều này.

  • Nhà nghiên cứu Trần Trọng Kim chép trong Việt Nam Sử Lược: "... và ông Chu Công Ðán lại chế ra xe chỉ Nam để đem xứ Việt Thường* về nước." (quyển 1, trang 13).
  • Còn theo sự khảo cứu của Châu Âu cho rằng: la bàn từ dùng kim nam châm được các nhà hàng hải Trung Hoa dùng khoảng năm 1100 Tây lịch. Theo học giả Alexander Neckam viết trong sách Desutensilibus (Nói về các dụng cụ) thì các thủy thủ Anh vào năm 1190, đã từng dùng la bàn cho những chuyến hải hành trên cách đại dương. Khoảng từ năm 1220 người Arập đã bắt đầu dùng la bàn và khoảng 1250 thì người Viking cũng đã biết dùng loại công cụ định hướng này một cách thường thức.

Họ còn trưng ra nhưng cái gọi là "di vật khảo cổ" để xác định la bàn là phát minh của người Hoa Hạ.

Thìa la bàn chỉ nam của người Trung Quốc
Chiếc thìa chỉ Nam - một di vật được coi là phát minh của người Hoa Hạ vào thế kỷ II BC.

Thế giới theo thói quen nhận thức đó, mặc nhiên ngộ nhận sự phát minh La Bàn là của người Trung Quốc.

Nhưng một bí ẩn còn chưa được giải thích, một câu hỏi còn đang bỏ lửng, khi đặt cho câu hỏi rằng:

Những công trình kim tự tháp của Ai Cập, Hy Lạp, Inca, Maya, Zoque ở Trung Mỹ, được xác định phương hướng để xây dựng hay các cấu trúc công năng của tháp cũng thể hiện khả năng, công dụng xác định được phương hướng, xác định được sao Cực Bắc, các hướng chính Bắc, chính Nam, chính Đông, chính Tây với độ sai biệt siêu việt hơn độ sai biệt lý tưởng cho phép của xây dựng thời hiện đại. Vậy thì thời đó các nền văn minh hơn 5000 năm này họ xác định hướng bằng gì?

Nếu cho rằng, các nền văn minh cổ xưa đã dùng sao Thiên Cực Bắc để tìm hướng Bắc.

Vậy thì chúng ta đều biết rằng: Hướng Bắc của chòm sao Thiên cực Bắc không hoàn toàn trùng khớp với phương Bắc của Địa cầu.

Nhưng, sự chính xác của các công trình kiến trúc nổi tiếng thời cổ đại, như Kim Tự Tháp Kim tự tháp Keop nổi tiếng của Ai Cập có đường chéo góc trùng khớp hoàn toàn với kinh tuyến Bắc Nam của địa cầu và là kinh tuyến đi qua đất liền dài nhất thế giới.

Làm thế nào để họ xác định chính xác trục Bắc Nam mà xây nên Kim Tự tháp vĩ đại này?

Cũng có ý kiến cho rằng: Người Ai Cập căn cứ vào sao Bắc Đẩu để xác định phương Bắc.

Mới nghe thì có vẻ có lý và có nhiều ngươi đồng tình. Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là trục Địa cầu nối kinh tuyến dài nhất theo hướng Bắc Nam, chứ không phải phương Bắc.

Làm sao người Ai Cập biết trục Địa Cầu nằm đúng phương Bắc Nam mà nhìn sao Bắc Đẩu?

Nếu không có la bàn (hoặc một cái gì đó tương tự như vậy) để xác định phương hướng các vì sao trên bầu trời với một kiến thức thiên văn vượt trội thì không thể thực hiện được. Điều này đã chứng tỏ qua vị trí các vì sao tương quan với các Kim Tự Tháp.

Chúng ta xem lại hai tư liệu liên quan đến sự phát minh ra la bàn vốn được coi là của người Trung Hoa.

  • Truyền thuyết ghi nhận trong trận đánh Hoàng Đế Xuy Vưu tại Trác Lộc (Trên 5000 năm cách ngày nay): Xuy Vưu làm phép khiến trời đất mù mịt. Một vị đại thần của Hoàng Đế phát minh ra cái xe chỉ nam và nhờ cái xe này, Hoàng Đế chỉ huy quân đội, phá tan đạo quân của Xuy Vưu.
Xi-Vưu
Tranh khắc đá hình tượng Xi Vưu từ thời nhà Hán
  • Sứ giả Việt Thường đến kinh đô cống vua Nghiêu một con rùa lớn (3000 năm cách ngày nay), trên mai rủa có ghi việc trời đất mở mang bằng Khoa Đẩu tự. Vua Nghiêu sai tặng sứ Việt Thường chiếc La bàn để định hướng về nước.

Sau hai tư liệu trên thì không có một tác giả Trung Hoa nào tự giới thiệu là người phát minh ra la bàn.

Cơ sở chứng minh La Bàn là của người Việt

Như chúng ta đã biết, chính các nhà sử học Trung Quốc cũng công nhận lịch sử văn minh Hoa Hạ chỉ rõ ràng trong khoảng thế kỷ thứ VIII BC. Huyền thoại thì không phải là cơ sở để tin cậy như một chứng cứ thuyết phục, nếu không giải thích được những vấn đề liên quan đến nó.

Khoa phong thủy đã được chứng minh thuộc về nền văn hiến Lạc Việt một thời huy hoàng bên bờ nam Dương Tử. Tất yếu la bàn là vật bất ly thân của môn này không thể ra đời trong văn minh Hán.

Chúng ta cũng cần quán xét một hiện tượng khác nữa là:

Sử Ký Tư Mã Thiên dành hẳn một truyện cho những thầy chuyên coi ngày, tựa là "Nhật giả liệt truyện", nhưng lại không hề nhắc tới khoa Phong Thủy vốn được coi là xuất hiện từ thế kỷ thứ III BC (tức là trước cả Tư Mã Thiên hàng 100 năm) - như tài liệu trên ghi nhận.

Ông ta cũng không hề có một chữ nào nói đến sự ứng dụng khoa Phong thủy trong các công trình xây cất của triều đình Hán. Tất nhiên, ông cũng không hề xác nhận la bàn là do phát minh của văn minh Hoa Hạ. Những chứng cứ trên xác định việc phát minh la bàn không thuộc về văn minh Hán cổ.

Quay về lại với hình tượng Cóc thật sự là bình dị và phổ thông như đã thấy, nhưng kết cấu lại đưa đến những sự trùng hợp mang tính tương đồng hay định hướng cho một sự suy nghiệm hợp lý giữa các hiện tượng liên quan.

  • Ông Cóc được đặt trên đôn tròn: có thể xoay các hướng làm cho miệng nhọn của hình tượng như một mũi tên chỉa về các phương, tương tự mũi kim nam châm luôn xoay tít và chỉ hướng Bắc Nam khi đã ổn định.

Do vậy, đôn đế thường được thiết kế tròn và bằng vật liệu không phải là kim loại, tương đồng với việc thiết kế vỏ la bàn bằng vật liệu không tạo sự nhiễm từ.

Ông Cóc được đặt trên đôn tròn
Ông Cóc được đặt trên đôn tròn
  • Miệng Ông Cóc ngậm một đồng tiền tròn: theo quan điểm Lý học Đông Phương thì tượng tròn thuộc kim. Hình tượng này cho thấy tính hút kim loại (tiêu biểu là sắt) của La bàn.

- Những hình ảnh tiền bạc mà tượng Cóc ngồi lên, cũng có thể tượng trưng cho tượng Kim, kim loại bị từ trường hút giữ. Như vậy tính từ lực được thể hiện qua hình tượng ẩn dụ mang tính thường thức phổ thông qua ý nghĩa cầu tài chiêu lộc. Nhưng đó là ẩn ngữ nhằm miêu tả một tri thức bị che lấp bởi hàng ngàn năm Hán hóa.

- Cấu trúc của miệng ông Cóc hơi nghiêng chếch lên, nên khi ta chỉ cần cho đồng tiền vào đúng miệng là tự nó vào sâu tiếp trong miệng. Điều này nói lên khi cho kim loại tới gần nam châm sẽ hút được nó.

  • Lưng ông Khiết mang chòm sao Bắc Đẩu: chòm sao này hướng nhìn lên trời, cho thấy ông nhìn về hướng Bắc.
  • Chân ông Khiết có nhiều đồng tiền nhỏ xung quanh: hình tượng thuộc kim một lần nữa được tái hiện, cho ta thấy nam châm có thể hút được kim loại từ rất nhiều chiều. Bên cạnh đó, đế lại được chế tác hình tròn, bằng vật liệu khác và tách rời với ông Cóc. Ý muốn nói rằng, vỏ của la bàn phải được làm bằng loại vật liệu khác mang dáng dấp của hình tròn và không phải là kim loại, không phải là nam châm thì la bàn mới hoạt động được.
  • Qua tác nghiệp đo xung khí bằng máy RFI của Nhà cảm xạ học Dư Quang Châu & đo xung xạ bằng con lắc của Nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh: Cho thấy rằng ông Cóc ngậm đồng tiền không tạo xung khí, trời đất giao thoa. Điều này nói lên trái đất vẫn chịu sự tương tác của thiên văn. Khi rút đồng tiền ra, miệng Ông Cóc tạo ra một xung khí phát thẳng, có thể coi là chỉ dấu chiều từ trường trái đất.
Kiểm tra bức xạ miệng ông Cóc
Đo xung khí tượng Cóc bằng máy RFI

Đương nhiên ông cha ta không muốn bị thất truyền, nên ngoài việc mang tính chiêu tài để lưu truyền, ông cha ta thêm chùm sao Đại Hùng Tinh trong tranh dân gian Việt in hình của chòm sao trên lưng trong tượng ông Cóc.

Sao Đại Hùng trên lưng tượng Cóc
Chòm sao Đại Hùng Tinh trên lưng ông Cóc

Chú thích:

(*) Việt Thường: Ngay tên Việt Thường mà thời vua Nghiêu gọi tên nước Văn Lang xưa cũng thể hiện “dân tộc trồng lúa nước”. Theo cụ Nguyễn văn Tố (trong Sử ta so với sử Tàu) thì Việt Thường là tên để chỉ cái “xiêm” của người Việt cổ trồng lúa nước, vì chưa có bang giao, người Tàu xưa (dân Hán – Mông) chưa hiểu rõ nên gọi luôn tên dân mặc “xiêm” là tên nước. Tên Việt Thường xuất hiện từ đó. Về sau khi đã có chữ viết, các nhà chép sử buổi sơ khai cứ theo cách gọi cũ ghi tên Việt Thường để chỉ vùng đất phát triển nhất của dân Bách Việt.

Địa Lý Lạc Việt

Bài viết khác